Bơ rất dễ trồng cũng như việc nhân giống: gieo hạt, chiết hoặc giâm cành và ghép cây. Phương pháp ghép nêm chồi ngọn đạt tỷ lệ sống cao trên 80%), cây con đạt tỷ lệ xuất vườn cao (trên 90%); thời gian xuất vườn ngắn nhất (8 – 10 tháng).
I. Đặc tính thực vật học
1.1 Đặc tính sinh lý của cây bơ
– Mặc dù hoa mang tính chất lưỡng tính, nhưng đặc điểm thụ phấn tùy thuộc vào hoạt động sinh lý của nhị và nhụy. Qua nhiều nghiên cứu hiện tượng nở hoa và thụ phấn được J.A.Samson (1980) quan sát ghi nhận sự thụ phấn của hoa bơ mang tính tạp giao. Căn cứ vào thời gian hoạt động của nhị và nhụy, các tác giả đã chia bơ ra thành 2 nhóm:
+ Nhóm A: hoa nở lần 1 vào buổi sáng; nhụy chín nhưng nhị chưa tung phấn; tiếp theo đó là thời kỳ hoa cụp lại; hoa nở lần 2 vào buổi trưa ngày hôm sau; nhị chín tung phấn nhưng nhụy không còn khả năng thụ phấn nữa. Khoảng cách thời gian giữa 2 lần nở hoa của một hoa kéo dài trên 24 giờ.
+ Nhóm B: có đặc điểm nở hoa ngược lại: hoa nở một lần vào buổi chiều; nhụy chín sẵn sàng đón phấn; tiếp theo đó là thời gian hoa cụp lại khoảng dưới 24 giờ; hoa nở lần 2 vào buổi sáng hôm sau; nhị chín và tung phấn.
1.1 Đặc tính sinh lý của cây bơ
– Mặc dù hoa mang tính chất lưỡng tính, nhưng đặc điểm thụ phấn tùy thuộc vào hoạt động sinh lý của nhị và nhụy. Qua nhiều nghiên cứu hiện tượng nở hoa và thụ phấn được J.A.Samson (1980) quan sát ghi nhận sự thụ phấn của hoa bơ mang tính tạp giao. Căn cứ vào thời gian hoạt động của nhị và nhụy, các tác giả đã chia bơ ra thành 2 nhóm:
+ Nhóm A: hoa nở lần 1 vào buổi sáng; nhụy chín nhưng nhị chưa tung phấn; tiếp theo đó là thời kỳ hoa cụp lại; hoa nở lần 2 vào buổi trưa ngày hôm sau; nhị chín tung phấn nhưng nhụy không còn khả năng thụ phấn nữa. Khoảng cách thời gian giữa 2 lần nở hoa của một hoa kéo dài trên 24 giờ.
+ Nhóm B: có đặc điểm nở hoa ngược lại: hoa nở một lần vào buổi chiều; nhụy chín sẵn sàng đón phấn; tiếp theo đó là thời gian hoa cụp lại khoảng dưới 24 giờ; hoa nở lần 2 vào buổi sáng hôm sau; nhị chín và tung phấn.
– Như thế hai nhóm A và B có đặc tính bổ sung sự thụ phấn cho nhau để cây đậu quả tốt. Nghiên cứu và ứng dụng tập tính nở hoa của các giống là yếu tố quyết định việc trồng bơ có hiệu quả kinh tế.
– Hiện tại chưa có đủ tài liệu để phân loại giống, nhưng vài tác giả đã phân chia một số giống như sau:
+ Nhóm A: gồm các giống: Mexicola, Puebla, Jalna, Gottfried, Taylor, Queen, Dickinson, Waldin, Simmonds, Collinson, Wagner, Taft, Lula, Dunedin…
+ Nhóm B: gồm các giống: Wilslowson, Nabal, Pollock, Trap, Fuerte, Mc Donald, Schmidt, Tonnage, Linda, Hardy…
+ Trong đó một số giống có khả năng tự thụ phấn gồm: Hass, Trap, Lula, Waldin, Taylor, Fuerte nhưng trồng riêng rẽ những giống này thường không thể cho năng suất cao được.
+ Nhóm A: gồm các giống: Mexicola, Puebla, Jalna, Gottfried, Taylor, Queen, Dickinson, Waldin, Simmonds, Collinson, Wagner, Taft, Lula, Dunedin…
+ Nhóm B: gồm các giống: Wilslowson, Nabal, Pollock, Trap, Fuerte, Mc Donald, Schmidt, Tonnage, Linda, Hardy…
+ Trong đó một số giống có khả năng tự thụ phấn gồm: Hass, Trap, Lula, Waldin, Taylor, Fuerte nhưng trồng riêng rẽ những giống này thường không thể cho năng suất cao được.
1.2 Đặc tính sinh thái của cây bơ
Cây bơ có rất nhiều giống thuộc các chủng khác nhau .
a) Về nhiệt độ:
Cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ, phân bố ở độ cao dưới 1.000 – 2.700 m. Mỗi giống có yêu cầu về nhiệt độ khác nhau. Tuy nhiên, người ta tạm chia các giống bơ ra thành 5 nhóm căn cứ vào sức kháng lạnh như sau:
– Nhóm chịu lạnh rất giỏi: có Lula, Taylor…
Cây bơ có rất nhiều giống thuộc các chủng khác nhau .
a) Về nhiệt độ:
Cây bơ có nguồn gốc ở các xứ nhiệt đới Trung Mỹ, phân bố ở độ cao dưới 1.000 – 2.700 m. Mỗi giống có yêu cầu về nhiệt độ khác nhau. Tuy nhiên, người ta tạm chia các giống bơ ra thành 5 nhóm căn cứ vào sức kháng lạnh như sau:
– Nhóm chịu lạnh rất giỏi: có Lula, Taylor…
– Nhóm chịu lạnh giỏi: có Nabal, Hall, Tonnage…
– Nhóm chịu lạnh khá: Booth 8, Monroe, Wagner, Choquette…
– Nhóm chịu lạnh kém: Booth 7, Waldin, Hickson, Collinson, linda…
– Nhóm chịu lạnh rất kém: Pollock, Trap…
b) Về độ: Lượng mưa tối thích cho cả năm là 1.000 – 1.500mm. Khi bơ ra hoa, nếu gặp trời mưa dầm, ẩm độ không khí quá cao, hoa sẽ rụng nhiều. Do đó, bơ cần có một mùa khô mát để ra hoa đậu quả tốt. Mưa nhiều vào mùa quả chín cũng làm giảm chất lượng quả, hàm lượng dầu không cao.
c) Về sức gió: Cây bơ có gỗ dòn, chống gió yếu nên vấn đề trồng cây che chắn gió có tác dụng hạn chế đổ gãy đồng thời giảm tốc độ bốc thoát hơi nước vào mùa ra quả (mùa khô) để cây không bị rụng trái. Gió còn làm trái cọ sát lẫn nhau, cọ sát với lá, cành gây ra bệnh sinh lý làm giảm giá trị trái bơ.
d) Về đất đai: có thể trồng bơ trên nhiều loại đất khác nhau: đất sét pha cát, đất pha sét, đất thịt nặng. Nhưng vấn đề đặc biệt cần lưu ý là đất phải thông thoáng, dễ thoát nước, giầu chất hữu cơ. Lớp đất thông thoáng thoát thủy phải sâu ít nhất là 90 cm. Đất có mạch nước ngầm thấp sâu ít nhất là 2m, vì trong thời kỳ đầu sinh trưởng, rễ bơ ăn cạn, cây vẫn phát triển tốt nhưng càng về sau, bộ rễ ăn càng sâu, gặp đất úng thủy, rễ phát sinh nấm Phytophthora làm chết cây.
II. Kỹ thuật trồng bơ
2.1 Cách nhân giống
– Bơ rất dễ trồng cũng như việc nhân giống: gieo hạt, chiết hoặc giâm cành và ghép cây. Phương pháp ghép nêm chồi ngọn đạt tỷ lệ sống cao trên 80%), cây con đạt tỷ lệ xuất vườn cao (trên 90%); thời gian xuất vườn ngắn nhất (8 – 10 tháng). Ở Đắc Lắc thời vụ ghép tốt là đầu hoặc giữa mùa mưa (tháng 5, 6, 7 và 8), sử dụng chồi non, cành bánh tẻ và mắt xanh để ghép là tốt hơn cả. Bơ sáp, bơ mỡ và bơ nước đều có thể sử dụng làm gốc ghép cho bơ. Phương pháp ghép nêm chồi ngọn cây sinh trưởng tốt hơn phương pháp ghép cắt và ghép áp đoạn cành.
2.1 Cách nhân giống
– Bơ rất dễ trồng cũng như việc nhân giống: gieo hạt, chiết hoặc giâm cành và ghép cây. Phương pháp ghép nêm chồi ngọn đạt tỷ lệ sống cao trên 80%), cây con đạt tỷ lệ xuất vườn cao (trên 90%); thời gian xuất vườn ngắn nhất (8 – 10 tháng). Ở Đắc Lắc thời vụ ghép tốt là đầu hoặc giữa mùa mưa (tháng 5, 6, 7 và 8), sử dụng chồi non, cành bánh tẻ và mắt xanh để ghép là tốt hơn cả. Bơ sáp, bơ mỡ và bơ nước đều có thể sử dụng làm gốc ghép cho bơ. Phương pháp ghép nêm chồi ngọn cây sinh trưởng tốt hơn phương pháp ghép cắt và ghép áp đoạn cành.
– Đối với bơ trồng từ hạt thì sau 5 – 6 năm mới có quả. Riêng đối với trồng bơ theo hình thức chiết ghép và giâm cành thì sau 2 – 3 năm cây đã cho trái.
2.2 Kỹ thuật trồng trồng
– Đào hố: sau khi đã dọn sạch cỏ và làm đất kỹ, đào hố rộng 60 cm, sâu 60 cm. Nên trồng vào đầu mùa mưa và trồng xen các giống bơ để tăng cường khả năng thụ phấn và đậu quả. Vì hoa bơlưỡng tính nhưng hoa đực và cái không chín cùng một lúc, nên không có khả năng tự thụ phấn
– Đào hố: sau khi đã dọn sạch cỏ và làm đất kỹ, đào hố rộng 60 cm, sâu 60 cm. Nên trồng vào đầu mùa mưa và trồng xen các giống bơ để tăng cường khả năng thụ phấn và đậu quả. Vì hoa bơlưỡng tính nhưng hoa đực và cái không chín cùng một lúc, nên không có khả năng tự thụ phấn
– Khoảng cách trồng: tuỳ theo chủng và giống , khoảng cách 7 x 7 m, trồng khoảng 200 cây /ha. Đối với chủng Antilles và những giống lai, có thể trồng ở khoảng cách khá thưa: 8x8m hoặc 10x10m.
– Vấn đề xen canh: những năm bắt đầu trồng bơ, khi cây bơ toả tán chưa rộng, có thể trồng xen rau đậu nhưng không nên trồng cà chua, khoai tây vì nấm Verticilium có thể lan truyền cho cây bơ.
– Biện pháp giữ ẩm: giai đoạn còn nhỏ, bộ rễ bơ ăn cạn, cho nên vấn đề tưới giữ ẩm và phủ gốc là cần thiết để bơ không bị chết do nóng khô vào mùa nắng; nhất là đối với những vườn bơ trồng bằng cây ghép. Tốt nhất nên tưới phun và không nên tưới đẫm vào gốc.
2.3 Kỹ thuật bón phân
a) Chọn loại phân: Tùy theo giai đoạn phát triển của cây mà chọn phân bón cho thích hợp như sau:
– Phân hữu cơ: Trước khi trồng và trong những năm đầu,phải bón phân chuồng hoai 10 – 20 tấn/ha .
a) Chọn loại phân: Tùy theo giai đoạn phát triển của cây mà chọn phân bón cho thích hợp như sau:
– Phân hữu cơ: Trước khi trồng và trong những năm đầu,phải bón phân chuồng hoai 10 – 20 tấn/ha .
– Phân NPK (giai đoạn cây còn nhỏ): bón theo công thức N – P2O5 – K2O với tỷ lệ 1-1-1.
– Phân NPK (giai đoạn cây lớn): nên tăng tỷ lệ K2O và N lên theo tỷ lệ 2-1-2.
– Phân vi lượng: Các nghiên cứu về phân bón cho bơ cho thấy bón phân không đủ và mất cân đối đã làm giảm độ phì đất dẫn đến giảm năng suất, cây bơ có hiện tượng ra quả cách năm nặng nề, quả nhỏ và có các triệu chứng rối loạn sinh lý sau thu hoạch như vàng lá, rụng lá. Ngoài N, P, K, các chất vi lượng như Fe, B, Zn dù chỉ bị cây bơ lấy đi qua các vụ thu hoạch với lượng nhỏ nhưng các kết quả nghiên cứu ở các vùng trồng bơ nổi tiếng trên thế giới cũng cho thấy có hiện tượng thiếu vi lượng trên cây bơ và gây ảnh hưởng xấu đến năng suất, kích cỡ và chất lượng quả bơ.







0 nhận xét:
Đăng nhận xét