Hotline:0934.45.55.44

Tư vấn về sản phẩm nông nghiệp, dinh dưỡng cây trồng.

Không chỉ mang phong cách sáng tạo, sang trọng, lịch lãm, sản phẩm của chúng tôi còn nổi bật bởi những thiết kế khác biệt, thể hiện được đẳng cấp cũng như cá tính riêng của mỗi gia chủ.

Phát triển bền vững, sinh thái hệ cây trồng.

Những thiết kế của chúng tôi mang đậm tính sáng tạo, đề cao tính độc đáo, mới lạ và ấn tượng, là “ngọn cờ tiên phong” tạo nên các xu hướng thiết kế nội thất mới trên thị trường.

Thiết kế nội thất chung cư xanh

Chúng tôi luôn đưa ra những giải pháp tối ưu nhất cho căn nhà của bạn.

Thiết kế nội thất chung cư tại Hà Nội

Đến với chúng tôi bạn sẽ có những sản phẩm đẹp nhất, tốt nhất với giá thành hợp lý nhất

Thiết kế nội thất chuyên nghiệp

Chúng tôi tạo ra những sản phẩm khác biệt và độc đáo dựa trên những ý tưởng sáng tạo cùng những bản vẽ chất lượng cao.

Pages

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

Bảo vệ vườn cây ăn trái vào mùa mưa lũ

Dùng cuốc ba răng xới mặt liếp cho xốp, sau đó rải phân nhằm giúp phân bón tiếp cận cây trồng dễ dàng hơn, hạn chế gây tổn thương rễ cây. Tu sửa lại mương máng, cống thoát nước; Cắt tỉa các cành vô hiệu, chồi vượt để hạn chế tiêu hao chất dinh dưỡng, tránh lay động gốc ảnh hưởng đến rễ khi bị ngập.

Ngừng làm cỏ vườn từ cuối tháng 7 giúp đất không đóng váng, điều hòa dòng chảy. Để tránh hiện tượng rửa trôi thì cắt bớt cỏ, chỉ giữ lại gốc. Bà con có thể chọn loại cỏ họ hoà bản như cỏ sả hay cỏ rusi để vừa kết hợp cho đất liếp vườn được tốt, vừa tận dụng cho chăn nuôi. Để hạn chế cỏ dại nên dùng thuốc Gramoxone làm cháy bộ lá, giữ lại phần gốc làm thảm thực vật cho vườn cây được êm hơn.

Mùa mưa lũ, không nên bón phân hữu cơ cho cây vì sẽ dễ làm rễ cây thiếu không khí.
Chú ý giai đoạn này không nên bón nhiều phân đạm, vì phân đạm sẽ kích thích cây ra đọt non. Cũng không nên bón phân hữu cơ cho vườn cây vì phân hữu cơ sẽ làm tiêu hao nhiều oxy và khi đất bị ngập úng thì rễ cây sẽ không đủ oxy để hô hấp.
Ngoài ra, bón phân hữu cơ trong mùa mưa sẽ tiêu hao không khí trong đất và dễ làm cho rễ cây thiếu không khí. Việc bón phân vô cơ tùy theo từng giai đoạn của cây. Nếu cây đang mang trái thì cần nhiều đạm và kali, nếu cây đang trong giai đoạn thúc ra đọt thì cần nhiều đạm và lân. Để chống lại sự rửa trôi nên xới xáo nhẹ vườn trước lúc bón.
Rất cần thiết bón thêm 500kg vôi cho mỗi ha vì ngoài tác dụng giải phóng các dinh dưỡng bị keo đất giữ chặt, hoá giải các độc tố trong đất, việc bón vôi còn có ý nghĩa cung cấp canxi trực tiếp cho cây, chất lượng trái ngon hơn.
Có thể khắc phục hiện tượng thiếu vi lượng bằng cách sử dụng các muối sunphát ZnSO4, CuSO4, MnSO4, FeSO4,… Hòa với nước để phun lên lá với liều lượng 2g/lít (32g/bình 16 lít). Để chắc ăn thì nhà vườn phải tự tay thử với liều lượng tăng dần và quan sát phản ứng cây sau 3 ngày.

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

Trồng sầu riêng cơm vàng hạt lép

I. Giống

– Hiện nay, Thái Lan và Mã Lai đã chọn được nhiều giống sầu riêng tốt. Các giống sầu riêng nổi tiếng của Thái Lan gồm có. Mong Thong No 1, KhanYao, Chanee, Kradum Thong, Luang và Kob. Các giống của Mã Lai là D2 (Dato Nina), D7, D10(Durian Hijau) D24,D98 (Ka toi), D99, D114 và D117 (Gombak). Các giống của Indonesia gồm Sunan Sukun, Hepe, Mas, Sitokong và Petruk.


– Ở đồng bằng sông Cửu Long có trồng nhiều giống sầu riêng, trong đó có một số giống khá phổ biến hiện nay như :


+ Sầu riêng Khổ qua xanh: vỏ trái vẫn còn màu xanh khi chín, trái hơi dài, chóp trái nhọn, có khía rõ, gai nhỏ, cuống trái ngắn nhỏ. Cây sai trái, trái nhỏ nặng trung bình 2 – 3 kg. Cơm mỏng, phẩm chất khá. Trồng nhiều ở Tiền Giang.

+ Sầu riêng khổ qua vàng: trái có màu vàng nhạt khi còn non, khi chín vỏ trái có màu vàng. Trọng lượng trái và phẩm chất tương tự giống khổ qua xanh. Ít được ưa chuộng so với giống khổ qua xanh vì năng suất thấp hơn.

+ Sầu riêng khổ qua hột lép: trái màu xanh vàng nhạt, gai to, thưa, chóp trái phẳng, cuống trái dài, to. Năng suất khá (100 – 200 trái/cây/năm). Trái nặng 1,5 – 3 kg, dầy cơm, phẩm chất ngon, tỷ lệ hột lép trong trái khá cao. Được biết nhiều ở Tiền Giang.

+ Sầu riêng Sữa hột lép: trái tròn, vỏ trái màu vàng nâu khi chín, cơm dầy màu vàng, hột lép nhiều, ít xơ, ngọt, béo, thơm. Năng suất trung bình. Trái nặng 2 – 3 kg, có thể thu hoạch trước trên cây. Đây là giống nổi tiếng ở vùng Chợ Lách (Bến Tre).

– Ngoài ra, còn có một số ít giống phổ biến khác như: sầu riêng Bí Rợ, Vàm Xẻo,Sáp,… và một số giống sầu riêng nhập từ Thái Lan, Mã Lai đang được trồng thử nghiệm ở nhiều nơi.

– Về tiềm năng năng suất, trọng lượng trái thương phẩm thay đổi từ 1,5 – 4 kg, cá biệt cũng có trái nặng đến 8kg.

II. Kỹ thuật trồng

1. Nhân giống

Sầu riêng có thể được nhân giống bằng hột, tháp mắt, tháp cành, tháp đọt và chiết. Cây trồng bằng trái và năng suất không được ổn định, cây rất lâu cho trái (mất từ 7 – 12 năm) và có chiều hướng phát triển khung tán rất to gây trở ngại cho việc chăm sóc. Do đó phương pháp nhân giống vô tính thường được áp dụng rộng rãi hơn. Hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long sầu riêng thường được trồng bằng cây tháp và chiết.

1.1 Phương pháp tháp mắt

a) Chuẩn bị gốc tháp

– Hột thường được chọn từ những trái chín đầy đủ. Sau khi chà sạch cơm, loại bỏnhững hột xấu lép rửa sạch, xử lý thuốc sát khuẩn trước khi đem ươm. Hột mất sức nẩy mầm nhanh nên cần gieo ngay. Đem trải đều hột kề nhau trên đất ẩm, phía trên phủ tro trấu, tưới nước giữ ẩm hàng ngày. Sau khi hột nẩy mầm (8 – 17 ngày) đem cấy vào liếp.

– Đất liếp cấy hột sầu riêng phải cuốc sâu 30 cm để rễ cái phát triển tốt. Cấy hột với khoảng cách 30 x 30 cm. Đặt phần tễ hột úp xuống dưới, 1/2 phần đáy hột hướng lên trên. Khi cấy hột xong tủ cỏ lại và tưới nước giữ ẩm hàng ngày. Rải thuốc trị kiến, xịt thuốc phòng trừ sâu bệnh thường xuyên và dùng phân N-P-K tưới để cây con phát triển tốt. Có thể dùng Derosal, Carbendazim, Bavistime, Appencab để phòng trị chết cây con. Cây con phát triển có 1-3 thân, chỉ cần giữ lại 1 thân chính khỏe mạnh. Nên che mát ánh sáng 50% để cây ít bị cháy lá và chậm tăng trưởng (do quang phân hóa).

– Có thể ươm hột trong bầu đất. Đặt hột ở 1/3 chiều cao bầu, thêm đất trộn tro trấu vào đầy dần bầu theo sự phát triển của rễ hột.

– Cây con sử dụng làm gốc tháp phải có tuổi thích hợp tùy theo phương pháp tháp. Gốc khoảng 3-5 tháng tuổi được dùng làm gốc tháp cành, tháp đọt; gốc 1,5-3 năm tuổi dùng tháp mắt. Lưu ý khi dùng gốc tháp non (tháp cành, tháp đọt) phải chăn sóc thật kỹ khi đem trồng vì cây dễ bị chết do rễ phát triển kém.

b) Mùa vụ tháp

Đối với sầu riêng, tiến hành tháp vào khoảng tháng 6-9 dương lịch hàng năm là tốt nhất vì trong những tháng này có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp nên tháp cây rất dễ dính. Sầu riêng cũng được tháp trong mùa nắng, có thể cắt ngọn gốc tháp trước, bứng vô bầu đem đặt vào chỗ thoáng mát để tiến hành tháp. Tỷ lệ tháp dính so với tháp trong mùa mưa kém hơn.

c) Kỹ thuật pháp

– Có nhiều kiểu tháp, nhưng kiểu tháp theo chữ U xuôi là phổ biến nhất. Mở miệng tháp trên gốc tháp cách mặt đất khoảng 25-30 cm, nhánh mũi dao làm trầy phần gỗ bên trong. Miệng tháp dài khoảng 2-2,5 cm, rộng khoảng 1-1,5 cm. Dùng dao rọc một đường chia lớp vỏ đậy miệng tháp làm 2 phần lớn của vỏ đậy một lỗ nhỏ tròn để khi đặt mắt tháp vào không bị cấn dập.

– Mắt tháp (còn gọi là bo tháp) được lấy từ những mầm vừa nhú lên từ nách lá (nông dân thường gọi là hột gạo) trên cành. Cắt cuống lá trước 3-4 ngày trước khi lấy bo tháp. Bo tháp được lấy theo kích thước hơi nhỏ hơn miệng tháp. Luồn bo tháp vào miệng tháp đậy vỏ miệng tháp lại sao cho mầm tháp nhú ra ngoài từ nơi khoét lỗ. Dùng một đoạn lá dừa dài khoảng 5 cm, rộng 2 cm có khoét lỗ ở giữa đậy lên kín miệng tháp, dùng dây thun buộc lại. Đầu trên lá dừa phải buộc chặt để nước không thấm vào trong, phía ngoài chỗ tháp được quấn dây thu vừa phải làm cấn giập mầm tháp.

– Nếu phải lấy mắt tháp ở nơi xa, sau khi cắt cành nhúng nước giữ ẩm ở gốc cành rồi dùng lá chuối bó lại. Không được nhúng ướt cả cành vì dễ làm hư mắt tháp. Mắt tháp sầu riêng có thể giữ được tốt trong vòng 1 ngày.

– Sau khi tháp 20 ngày thì mở dật thun, nếu tháp dính thì ngày thứ 25 có thể cắt đọt gốc tháp cho mầm phát triển. Khoảng 4-6 tháng sau khi cắt đọt , nếu cây con phát triển tốt thì có thể đem trồng.

1.2. Phương pháp tháp cành

Có hai phương pháp tháp cành là tháp nêm (ghép nêm) và tháp ngọn (ghép đọt).

a) Tháp nêm:

Chuẩn bị gốc tháp:Sử dụng gốc tháp khoảng 3-5 tháng tuổi, phần thân thật (phía trên trục hạ diệp) có đường kính 3-4 m.

Chọn cành tháp: Chọn cành tháp còn non, lá màu xanh vàng nhạt, đường kính thân cành khoảng 3-4 mm, dài 20-30 cm. Có thể chọn cành non mọc trên các cành chính hay trên thân chính.

Chuẩn bị giàn tháp: Khi tháp các cành non mọc từ cành chính trên cao thì cần làm giàn treo bầu gốc tháp. Cắm 2 cọc tràm hay tre ở gốc cành chính (sát gốc thân) và phía ngoài ngọn cành, sau đó buộc thắt dài 1 sào tre (hay tràm) nối 2 đầu cọc, song song sát với cành chính buộc các bầu gốc tháp vào tương ứng với các cành tháp.

– Cách tiến hành:

+ Dùng dao cắt ngang thân gốc tháp ở vị trí cách trên trục hạ diệp (phần thân to mềm, mọc ra đầu tiên từ hột) 2-3 cm. Chỗ cắt cách mặt đất 10-15 cm tùy theo trục hạ diệp dài hay ngắn. Dùng lưỡi lam vuốt mỏng dần 2 bên ngọn gốc tháp còn lại thành hình lưỡi gà mỏng, dài khoảng 2cm.

+ Dùng dây nylon buộc treo gốc tháp vào giàn ở vị trí thích hợp với cành tháp.

+ Dùng lưỡi lam cắt sâu vào giữa lõi cành tháp theo chiều xiên về phía ngọn cành, dài khoảng 2-2,5 cm để tạo miệng tháp. Luồn phần lưỡi gà của gốc tháp vào miệng tháp. Dùng vải nylon (rộng 1 cm, dài 50 cm) buộc miệng tháp lại từ dưới lên trên theo hình mái ngói để tránh đọng nước.

+ Tưới giữ ẩm thường xuyên bầu gốc tháp khoảng một tháng sau khi tháp có thể cắt đem bầu cây tháp xuống.

+Phương pháp này có nhược điểm là dễ gãy nơi vết tháp nếu trồng trong vùng có gió mạnh (Duyên Hải, Sông Bé,…) dễ chết nếu trồng trong mùa mưa do vết tháp dễ nhiễm vi khuẩn.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Cách hạn chế Sầu Riêng rụng trái non

Sau khi trái non đã đậu, cần có các biện pháp giúp hạn chế rụng và nuôi trái nhanh lớn. Trái rụng có nhiều nguyên nhân như khi gặp mưa nhiều làm dư nước hoặc do cây đậu trái nhiều quá, cây thiếu dinh dưỡng để nuôi trái, đặc biệt Nitơ và canxi rất cần thiết trong giai đoạn này.
Đối với những cây không sung sức thì tiến hành bón phân gốc sớm, dùng khoảng 0,5 kg NPK loại 15-15-15 bón cho 1 gốc. Bên cạnh đó, phun phân bón lá chuyên dùng cho sầu riêng lúc này rất hiệu quả trong việc hạn chế rụng trái non. Do trái non và cây cần gấp N để phát triển, cần Ca kèm B để giúp cuống trái dai, trái không rụng. Cho nên cần phun các loại phân bón lá như HCR có chứa N, Ca và cả B.

Ngoài ra, trái non bị rụng cũng còn do nguyên nhân là cây nhú đọt non sau khi đã xả nhụy. Đợt đọt non nhú trễ này sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với trái non làm trái non bị rụng nhiều, nếu đọt non nhú trễ hơn khi trái đang lớn thì trái sẽ bị sượng.

Do đó, điều khiển đọt non là một kỹ thuật rất quan trọng, nhà vườn chú ý điều khiển cho cây nhú đọt non sớm khi cây bắt đầu nhú hoa để vừa đảm bảo cho cây có đủ bộ lá nuôi trái sau này, lại vừa hạn chế rụng trái và sượng trái.

Khi thấy cây nhú đọt non trong giai đoạn nuôi trái thì nhà vườn cần khống chế đọt non bằng cách phun các loại phân bón lá chứa nhiều kali như Food-MX3 (1-21-21 + 3Zn) phun ướt đều các đọt để giúp lá nhanh già, tránh cạnh tranh dinh dưỡng với trái.

Nuôi trái

Kết hợp bón phân gốc và phun thêm phân bón lá cho cây để cung cấp dinh dưỡng đầy đủ giúp cây nuôi trái nhanh lớn, năng suất cao và đạt chất lượng tốt. Cần lưu ý không sử dụng các loại phân có chứa Clo vì sẽ làm trái bị sượng.

1. Bón phân gốc

– Khi trái to bằng trứng vịt bón mỗi gốc 1 kg Urê + 0,5 kg Kali sunphate hoặc có thể thay thế bằng 1,5 kg NPK 15-15-15 (không chứa Clo).

– Khi trái to bằng cái bát bón tiếp lần 2, lúc này trái đang lớn nhanh nên cần lượng phân bón nhiều hơn, bón cho mỗi gốc 1 kg Urê + 1 kg Kali sunphate hoặc cũng có thể thay thế bằng 1,5 kg NPK 15-15-15 (không chứa Clo) + 0,5 kg kali sunphate.

Dưới gốc có thể tưới bổ sung thêm loại phân có khả năng hòa tan hoàn toàn trong nước như MX-HÒA NƯỚC TƯỚI 4 (dùng 25 g pha trong 10 lít nước tưới cho 1 gốc) cho hiệu quả nhanh, cung cấp kịp thời dinh dưỡng cho cây.

2. Phun trên lá

Khi trái mới đậu phun DƯỠNG TRÁI 2-3 lần, định kì 10 ngày 1 lần. Có rất nhiều loại thuốc dưỡng trái (phân bón lá chuyên dùng trong giai đoạn nuôi trái) để nhà vườn sử dụng trong giai đoạn này. Tuy nhiên, khi sử dụng, nhà vườn cần chú ý 2 điều sau đây:

– Thứ nhất: Thời kì trái vừa đậu, trái và cây cần N nhiều hơn P và K để nuôi trái. Do đó trong thời kì này nên phun các loại phân bón lá có chứa N khoảng 9-10%, P và K không cần nhiều khoảng 5-6% và có chứa các trung vi lượng như Ca, Mg, B, Zn, Mn….

– Thứ hai: Thời kì trái đang lớn (sau khi trái đậu khoảng 1,5 tháng) có thể phun 1 lần phân bón lá có chứa ít GA3 để giúp gai nở, trái mau lớn. Nhưng càng gần thu hoạch thì cây càng cần K nhiều, N ít và P thì hầu như không cần (do còn dưới đất), đặc biệt phải bổ sung thêm Ca nên cần phun những loại phân có công thức khoảng 10-0-35 + 3 Ca.

Khi trái to hơn cái bát dùng Food-MX4 + NUTRIMIX phun định kì 10 ngày 1 lần giúp trái to, chống sượng và tăng chất lượng trái. Ngoài ra, phun NUTRIMIX thường xuyên giúp cuống trái tươi lâu hơn và giảm hiện tượng “đen tim”, “trong tim” sầu riêng. Trong giai đoạn nuôi trái, nhà vườn cần lưu ý tưới nước đều đặn cho cây, không để cây bị khô rồi gặp mưa hoặc nước nhiều dễ gây sượng trái.

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

Kỹ thuật trồng dừa Xiêm

Tuyển chọn giống tốt:

– Nên chọn những cây sinh trưởng, phát triển tốt, không có triệu chứng các bệnh hại nguy hiểm trong vườn trồng thuần giống dừa xiêm để lấy quả nhân giống.
– Chọn những trái phát triển cân đối, không bị dị hình từ phía giữa buồng đến cuối buồng, bỏ những trái ở đầu buồng để tránh hiện tượng cây ra buồng có cổ bông dài, dễ bị gãy quày. Trong vườn ươm, nên chọn những cây có nhiều lá, bản lá rộng nhưng cuống ngắn thường là những cây sẽ cho sản lượng cao.

Chăm sóc:

– Khi xen canh, các cây trồng khác phải trồng cách gốc dừa ít nhất 2 m.

– Không nên vô cớ đốn tỉa các tàu lá non, nhất là thời kỳ cây chưa cho trái sẽ làm giảm sức sinh trưởng của cây, cây chậm ra hoa. Với các cây đang cho trái, nếu các tàu lá bị đốn tỉa trước khi hoa tự nở sẽ làm cho hoa ở nách lá đó bị hư hại, hoặc nếu buồng có phát triển được thì sau này cũng dễ bị gãy cổ quày.

– Tưới nước đầy đủ trong giai đoạn cây con; trong vườn phải có hệ thống mương rãnh thoát nước tốt để tránh úng ngập khi mưa lũ.

– Thường xuyên xới xáo vườn dừa vào đầu mùa mưa để cắt bỏ phần rễ chết, tạo thông thoáng cho đất giúp rễ mới phát triển.

– Làm sạch cỏ tranh (kể cả thân ngầm) vì chính những thân ngầm này sẽ phát triển khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển trở lại đồng thời rễ của nó có chứa nhiều độc tố có thể đâm xuyên rễ dừa gây chết cây hàng loạt.

– Hàng năm nên vét mương, bồi bùn đắp gốc vừa để cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây, vừa bảo vệ vùng rễ, tạo điều kiện cho việc thoát nước tốt hơn, tránh để úng ngập gốc. Tuy nhiên, không nên bồi bùn quá dày, làm cho vùng rễ thiếu ô xy dễ gây nên hiện tượng rụng quả non.

– Bón đủ và cân đối lượng phân, bón đúng lúc, đúng kỹ thuật sẽ giúp cho vườn dừa nâng cao năng suất, chất lượng trái và hạn chế được sâu bệnh hại.

Phòng trừ sâu bệnh hại:

Ngoài các biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại đối với cây dừa nói chung, bà con cần đặc biệt chú ý phòng trừ kịp thời 2 đối tượng gây hại quan trọng rất mẫn cảm với giống dừa xiêm là sâu đuông và bọ cánh cứng.

– Đuông dừa là côn trùng gây hại nguy hiểm nhất, sức gây hại rất lớn vì rất khó phát hiện. Con trưởng thành thường đẻ trứng vào những lỗ đục của kiến vương trên thân những cây dừa bị thương tích hoặc ở những vết nứt trên thân cây. Sâu non nở ra và bắt đầu gây hại bằng cách khoét những lỗ nhỏ trên thân hoặc ngọn cây để ăn đọt non, lá non làm cho lá héo khô dần dẫn đến chết cây.

Biện pháp phòng ngừa sự phá hại của kiến vương cũng là phòng ngừa sâu đuông, vì sâu đuông là đối tượng xâm nhập thứ cấp. Thường xuyên kiểm tra và chăm sóc tốt vườn dừa, kịp thời phát hiện sâu đuông. Khi phát hiện, dùng một trong các loại thuốc hóa học như Basudin 50ND, Pyrimex 20EC, Actara 25WG… để phun trừ. Với những cây thấp có thể dùng bông gòn tẩm các loại thuốc trên nhét vào các lỗ xâm nhập của sâu đuông, bên ngoài dùng đất sét trám bít lại.

– Bọ dừa cũng là một trong những đối tượng gây hại nguy hiểm trên cây dừa. Loại bọ cánh cứng này phá hại cả ở giai đoạn sâu non và trưởng thành. Bọ dừa tấn công trên bề mặt của những lá dừa non chưa mở. Chúng ăn hết lớp biểu bì, làm lá bị khô, héo, mất khả năng quang hợp. Thả ong ký sinh để diệt bọ cánh cứng hại dừa là biện pháp sinh học đưa lại hiệu quả cao nhất, ít tốn kém mà lại không gây ô nhiễm môi trường hiện đang được ứng dụng phổ biến và rộng rãi trên nhiều vùng trồng dừa chuyên canh của nước ta.

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Kỹ thuật trồng phủ bạt Đu Đủ Hồng Phi

Việc dùng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic) phủ lên mặt luống rồi mới trồng cây đu đủ có thể hạn chế được rệp truyền virus cho cây, hạn chế cỏ dại, ổn định nhiệt độ đất, thúc đẩy cây phát triển, vào mùa khô giữ được độ ẩm đất, giảm lượng nước bốc hơi, khi trời mưa tránh cho đất bị xói mòn gây tổn thương bộ rễ và nước mưa thấm xuống đất gây nên quá ẩm và phân bị rửa trôi…


Dùng bạt phủ nông nghiệp trồng Đủ đủ là một biện pháp kỹ thuật mới, người sản xuất nên áp dụng, chọn trồng những giống đủ đủ có năng suất cao, phẩm chất tốt, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Xin giới thiệu kỹ thuật trồng đu đủ hồng phi 786 bằng phương pháp dùng bạt phủ:

I. Đặc tính của giống Hồng Phi 786:

Cây phát triển rất khỏe, cây có trái sớm, cây có trái đầu tiên lúc cây cao khoảng 80cm. Tỷ lệ đậu trái cao, một mùa 1 cây có thể đậu 30 trái trở lên, sản lượng rất cao. Trái lớn, trọng lượng trái từ 1,5Kg – 2Kg, (có thể đạt 3 kg/ trái). Cây cái ra trái hình bầu dục, cây lưỡng tính cho trái dài. Da nhẵn bóng, thịt dày màu đỏ tươi.

Thời vụ gieo trồng:

– Miền Bắc: vụ Xuân trồng vào tháng 2 – 4 hoặc vụ Thu cuối mùa mưa (Tháng 9 – 10).

– Miền Nam: trồng vào đầu mùa mưa (Tháng 4 – 5). Những vùng chủ động tưới tiêu trồng vào cuối mùa mưa (Tháng 10 – 11 ).

– Miền Trung: vụ Xuân trồng vào Tháng 12- 1, vụ Hè Thu trồng tháng 5-6.

II. Gieo hạt ươm cây :

1. Vườn ươm :

Hạt đu đủ có thể gieo trong bầu đất, trên luống hoặc trực tiếp vào các ụ đất đã được chuẩn bị để trồng. (Gieo trong bầu đất: Bầu đất có kích thước 12cm x 15cm. Đất + phân chuồng hoai mục trộn đều theo tỉ lệ 2 : 1).

Gieo trên luống: Đất làm kỹ cần 5-10kg phân hữu cơ hoai mục, 0,1-0,15 kg Supe lân, 0,3 –0,5 kg vôi rải đều, trộn lại trên 1m2

2. Gieo hạt :

Chọn hạt giống tốt. Ngâm trong nước 4 – 5 giờ vớt ra, ủ trong nhiệt độ 30 – 320C từ 4–5 ngày thì nứt mầm. Chọn những hạt nảy mầm gieo vào bầu đất, sâu 0,5–1cm. Gieo trên luống từ 7–10 ngày hột nảy mầm, khi cây được 5–7 lá (30 –50 ngày) thì có thể trồng.

3. Chọn đất :

Chọn đất ở vùng cao, thoát nước tốt, hoặc vùng đất đồi, nếu trồng ở vùng đồng bằng phải lên luống thật cao và đường mương thoát nước phải sâu. Đất giàu chất hữu cơ là lý tưởng nhất. Độ pH thích hợp từ 6 – 6,5

4. Làm đất, trồng :

* Mật độ, khoảng cách:

– Hàng x hàng: 2-2,5m; cây x cây: 2m; Mật độ: 2.000-2.100 cây/ha.

– Lượng giống cần cho 500 m2 : 2 – 2,5 gói (1 gram/gói, ~ 65 hạt/gói)

– Đất cày sâu lên luống cao, mặt luống rộng 1m, cao 0,4 – 0,5m, cây cách cây khoảng 2m, căn cứ vào khoảng cách để đào lỗ, bón phân lót rồi trộn đều với đất và đắp bằng. Cây đu đủ trước khi xuống giống 1 ngày phải tưới nước đầy đủ, lấy cây trong bầu ra rồi trồng xuống đất ngay thẳng, mỗi hốc trồng 1 cây, sau đó tưới nước. Đối với mặt luống dùng màng phủ nông nghiệp thì hố đào vừa túi bầu (khoảng 15 x 20 cm)

Mỗi hố cần: 5kg phân chuồng; 300g NPK (15-9-17+TE), 300g Supe lân, 250g bao hạt vàng, 200g vôi.

* Lượng phân bón lót/100 cây (khoảng 500 m2):

Phân chuồng: 500 kg; NPK (15-9-17 +TE): 30 kg; Supe lân: 30 kg; 25 kg bao hạt vàng; vôi: 20 kg

* Kỹ thuật trồng: Lấp đất phủ qua phần cổ rễ, nén chặt xung quanh. Tưới nước, giữ ẩm.

III. Chăm sóc

1. Cắm cây cọc: Thông thường đu đủ đều trồng thẳng, khi gặp gió bão phải cắm cọc chống gió, dùng 3 cây cọc cắm chéo hoặc 1 cây cọc cắm thẳng và cột chắc cây đu đủ vào cọc. Vào thời kỳ cây đậu trái nhiều mà gặp gió bão có thể chặt bớt một số lá già gần gốc, để giảm bớt sức cản gió, chống đổ ngã hoặc gãy.

2. Tỉa cành và hái trái: Sau khi xuống giống, nếu trên thân chính mọc ra nhánh con phải ngắt bỏ sớm. Vào thời kỳ đậu trái phải hái bỏ kịp thời những trái bị méo, bị sâu bệnh, những lá già héo chết phải ngắt bỏ luôn cuống lá.

3. Bón phân thúc: Cây đu đủ ra hoa đậu trái quanh năm, cần bón bổ sung phân cho cây để cây có thể đậu trái liên tục.

Sau đây là lượng phân bón dùng cho cây 1 năm: 0,4 – 0,5 kg urê + 0,5 – 1 kg supe lân + 0,2 – 0,3 kg kali sulfat (hoặc kali clorua) + 0,2 – 0,4 Canxinit hoặc Nitra bo.

Cách bón:

– Lần 1: Sau trồng 1,5-2 tháng, bón 1/3 đạm + 1/3 lân.

– Lần 2: khi cây ra hoa, bón 1/3 đạm + 1/3 lân + 1/2 kali + 1/2 Canxinit hoặc Nitra bo.

– Lần 3: Khi thu quả lứa đầu (sau trồng 6-7 tháng) bón hết đạm, lân, kali , Canxinit hoặc Nitra bo còn lại.

Cây 2 năm: Phân chuồng 5 – 10 kg + 0,3 – 0,4 kg urê + 0,5 – 1 kg supe lân + 0,3-0,4 kg kali sulfat (hoặc kali clorua).

Có thể qui ra phân NPK (15-9-17) +TE chuyên dùng cho rau ăn quả của C.ty phân bón Năm Sao) để bón thúc cho đu đủ.

Ghi chú: Ở những vùng đất thiếu Borax, cứ 100 cây đu đủ bón 0,25 – 0,5kg Borax.

4. Phòng trừ sâu bệnh:

a) Bệnh khảm: do côn trùng chích hút truyền nhiễm: nhện đỏ, rệp…

Mặt luống trồng phủ màng phủ nông nghiệp có thể hạn chế rệp.

Chăm sóc quản lý để cây đu đủ phát triển khỏe và nhanh, tăng cường sức kháng bệnh.

Vệ sinh vườn, phun các loại thuốc trừ côn trùng môi giới gây bệnh. Bệnh nặng phải hủy bỏ cây.

b) Nhện đỏ: Phun thuốc Ortus, Silsau, comite, Danitol, Kelthane…

c) Rệp, rầy: Vệ sinh vườn, phun các loại thuốc: Supracide, Regent, …

5. Thu hoạch:

Khi quả đã có vệt vàng trên vỏ quả (sau khoảng 2-3 tháng sau khi ra hoa) thì thu hoạch.

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Kĩ thuật trồng cây Dừa Xiêm Dứa

Dừa được trồng ở nhiều địa phương, từ các tỉnh miền Trung đến Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng ven biển đặc biệt thích hợp với dừa dứa. Loại cây này ưa đất tơi xốp, hàm lượng dinh dưỡng các chất dễ tiêu cao và đất không quá phèn hay quá mặn, độ pH từ 5 trở lên có thể trồng tốt. Trên vùng đất bạc màu cần cung cấp nhiều phân hữu cơ.


Dừa dứa thuộc nhóm dừa lùn, giống đồng hợp tử (homozygous). Nếu trồng chuyên canh dừa dứa cách ly với các vườn dừa khác giống thì không có khả năng lai tạp. Dạng cây, trái giống dừa xiêm xanh, chỉ khác là nước và cơm dừa có mùi thơm của dứa, mùa nắng hạn mùi thơm càng đậm. Bộ rễ và lá cũng có mùi thơm.

1.Cách chọn giống

Dừa dứa có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài trên 20 năm. Nó có vị thế quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế nông thôn, du lịch sinh thái… Vì thế, việc chọn giống để trồng là rất quan trọng vì nếu lầm lẫn trong khâu chọn giống thì năng suất thấp, chất lượng kém.

Vườn cây đầu dòng phải được trồng thuần dừa dứa và hoàn toàn cách ly với các vườn dừa khác giống. Cây giống được nuôi trong túi nhựa kích thước trung bình 20x 28cm, chiều cao cây từ 50cm trở lên, có 4 – 5 tàu lá, không bị sâu bệnh, bộ rễ phát triển.

2. Hướng dẫn cách trồng

2.1 Chuẩn bị đất:

Khai hoang theo rãnh để tránh gây biến đổi sinh thái môi trường và gây bất lợi cho sự phát triển cây trồng.

2.2. Mô liếp trồng:

Vùng đất cao ráo hay đất cát không cần lên liếp mà chỉ cần cày sâu 20- 30cm và dọn sạch cỏ, rễ cây. Đất phù sa thấp cần lên liếp để chống ngập úng. Tùy độ sâu của tầng phèn mà thiết lập mương liếp cho phù hợp. Liếp đơn bề rộng khoảng 4-5m. Liếp đôi bề rộng khoảng 9-10m. Chiều sâu mương không được vượt quá tầng sinh phèn. Nếu đất thấp cần lên mô cao 0,3- 0,7m, sau đó bồi đất hàng năm.

2.3. Mô hay hốc trồng:

Bón 1kg vôi bột, sau 1 tuần bón 0,5 – 1kg lân, 5-10kg phân hữu cơ hoai mục.

2.4.  Khoảng cách trồng:

Trung bình cây cách cây 5,5m-6m, hàng cách hàng 6m. Mỗi hecta trồng 280-300 cây.

2.5. Cách trồng:

Đặt cây con ở vị trí giữa mô hay hốc trồng; không lấp đất cao hơn cổ thân cây con; cố định cây để phòng chống đổ ngã và che gốc giữ ẩm.

3. Chăm sóc

3.1. Tưới nước:

Những ngày đầu sau khi trồng cần tưới cho cây, 1-2 ngày/lần. Cây bén rễ, mùa khô cần tưới 3 – 4 lần/tháng. Theo dõi độ ẩm của đất để điều chỉnh lượng nước tưới.

3.2. Làm cỏ:

Chỉ làm cỏ xung quanh gốc khoảng 1 – 2m. Không nên làm sạch cỏ để tạo vùng tiểu khí hậu ổn định và giúp thiên địch có chỗ khu trú.

3.3. Trồng xen:

Là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng tốt cho cây sinh trưởng. Trong những năm đầu có thể trồng các loại cây họ Đậu và xen các loại cây cam, quýt, ổi…

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

trồng và chăm sóc cây bưởi Da Xanh

Bưởi Da Xanh tuy mới xuất hiện nhưng đã thật sự trở thành một loại hoa quả đặc biệt mà ai cũng muốn thưởng thức, đồng thời đem lại tiềm năng phát triển kinh tế cho bà con.




I. Kỹ thuât trồng và chăm sóc

1. Trồng cây:

– Thời vụ trồng: có thể trồng quanh năm, tốt nhất trồng vào vụ xuân (tháng 2-4) vụ thu (tháng 8-10)

– Mât độ trồng: tuỳ thuộc vào chất đất và khả năng thâm canh.

+ Đất trồng bằng (phù sa): 6m x 7m

+ Đất vườn, đồi núi (sỏi đá): 4m x6m

– Đào hố:
+ Đất phù sa hố đào (60cm x 60cm x 60cm) nếu nền đất thấp trũng khó thoát nước  có thể đắp ụ hoăc lên luống cao.

+ Đất đồi hố đào 80cm x 80cm x 80cm trồng theo kiểu lanh sấu (so le)

– Bón lót/1 cây:
Bón cho mỗi hố tuỳ thuộc vào độ phì nhiêu của đất.

Phân bón hữu cơ Đồng tâm xanh : 15_20kg.

Phân lân (supelân) 1kg,Kali sun fat 0,5kg,Vôi bột 1kg

Phần đất mặt đựơc trộn đều với phân và cho xuống đáy hố phần đất còn lại để trên mặt hố, gốc cao hơn mặt vườn từ 10_20cm (việc đào hố, bón lót phải được tiến hành trước khi trồng từ 1 – 2 tháng).

– Cách trồng: rạch bỏ bầu nilông, đặt cây vào hố lấp đất ngập bầu khoảng 2_3 cm. Nèn chặt đất xung quanh bầu , tạo mặt lõm từ 3_5cm xung quanh gốc để  tưới.
Cắm coc va buộc dây mềm để cố định cây, tưới nước và phủ cỏ khô hoặc rơm rạ để giữ ẩm cho cây.

2. Chăm sóc cây sau khi trồng

– Thường xuyên giữ ẩm cho cây. Tưới phân bón lá Lay-O,Combi-5,komix….và bón định kỳ thường xuyên 1-2 lần/tháng.

– Cắt tỉa tạo tán 50cm để cành cấp I, 30cm để cành cấp II và 20cm để cành cấp III. Tạo cho cây có bộ khung cành , tán rộng tốt cho quang hợp.

– Bón cho cây chưa có quả, trước mỗi đợt lộc bón một lần thường năm có 3 đợt lộc vào mùa xuân _ hạ _thu.

– Khi cây có quả: bón 4 đợt/ năm:

+ Thời kỳ sau thu hoạch quả, bón phân hữu cơ + lân  100%, đạm 20% vôi 100%

+ Thời kỳ chuẩn bị ra hoa bón đạm, ka li,ZinC

+ Thời kỳ hạn chế dụng quả giúp quả lớn nhanh bón đạm, kali, boron.

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Điều cần chú ý khi trồng cây có múi

1. Cây có múi rất cần được bón vôi


Bón vôi không chỉ cung cấp dưỡng chất calci cho cây mà còn có nhiều tác dụng khác mà phân hóa học không có được như ngăn chặn sự suy thoái của đất, khử tác hại của mặn, ức chế sự phát triển nấm bệnh trong đất, phát huy hiệu lực phân hữu cơ, vô cơ và thuốc diệt cỏ. Thiếu calci cây yếu ớt dễ đổ ngã, sâu bệnh tấn công, trái hay bị nứt, nếu thiếu  trầm trọng thì đọt lá non biến dạng, quăn queo rồi chết khô. Calci còn giúp cây trồng giải độc, tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi nắng nóng, phèn, mặn.

Cần lưu ý rằng, hầu hết đất canh tác ở ĐBSCL đều thiếu calci, do đó cần phải bón vôi (bột đá vôi hay vôi tôi) mỗi năm một lần để cung cấp calci cho cây. Nên bón vào đầu mùa mưa với liều lượng 30 – 50 kg/công. Để hạn chế tác hại của mặn, những vùng đất mặn có phèn nên bón vôi nung (CaO) để rửa mặn, còn đất mặn không phèn nên bón vôi thạch cao (CaSO4) với liều lượng khoảng 30 – 50 kg/công. Bón bằng cách rải đều trên đất liếp, tưới một lượng nước ngọt dư thừa để rửa mặn ra khỏi liếp.

Đất trở nên chua khi bị suy thoái là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh trong đất phát triển như bệnh vàng lá, thối rễ, chảy mủ thân… ngày càng trở nên nghiêm trọng tại ĐBSCL. Một trong những biện pháp ức chế sự phát triển của các loại nấm bệnh này là bón vôi cải tạo đất. Thông thường có thể bón hàng năm vào thời điểm sửa soạn đất hoặc bón liều cao 100 – 200 kg/công nhưng vài năm mới bón lại một lần. Giúp vi khuẩn có lợi trong đất phát triển, giúp chất hữu cơ phân hủy nhanh hơn, giúp giữ chất mùn không bị rửa trôi… Ở đất phèn, phân lân bón vào đất chỉ hữu dụng khoảng 30%, vì vậy bón vôi trước khi bón phân lân, nhất là super lân sẽ làm tăng hữu dụng phân lân.

2.   Chú ý bón phân hữu cơ

Việc bón phân hữu cơ giữ vai trò quan trọng trong canh tác cây có múi,  bởi phân giúp cải  thiện đặc tính hóa lý đất như tăng độ phì, tăng hàm lượng hữu cơ, tăng khả năng giữ nước, giữ phân, cải thiện cấu trúc, độ ẩm đất.

Đặc biệt, thúc đẩy phát triển hệ vi sinh vật đất – thành phần giữ vai trò quan trọng. Giúp ổn định năng suất cây trồng, tăng chất lượng sản phẩm. Các nguồn phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, rác, vi sinh, phụ phẩm nông nghiệp, bánh dầu, phân sinh học… chú trọng sử dụng. Chú ý phân hữu cơ bón lót trước khi trồng, hàng năm, bón sau khi thu hoạch.

Canh tác cây có múi chú ý tạo tán cây 1 – 3 năm sau khi trồng, xén tỉa hàng năm sau thu hoạch. Áp dụng phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (IPM), giảm sử dụng thuốc BVTV (chuyển từ sử dụng thuốc hóa học sang thuốc nguồn gốc thảo mộc), sử dụng nấm Trichoderma, thiết kế vườn phù hợp, trồng cây chắn gió…

3.  Xử lý ra hoa không dùng thuốc

Có thể áp dụng bằng cách lảy lá. Sau khi thu hoạch xong, vệ sinh vườn (cắt tỉa cành, làm cỏ, quét vôi gốc…), bón phân lần hai (loại đạm thấp, lân và kali cao), liều lượng tùy vào tuổi và sự sinh trưởng của cây. Khi toàn bộ lá trên cây già và không còn tược non xuất hiện thì tiến hành lảy bỏ lá trên cành (cành cho trái). Kỹ thuật này đơn giản dễ làm, không sử dụng hóa chất xử lý ra hoa (thường áp dụng vườn bưởi).

Cho trái theo vị trí trên cây theo ý muốn nên thuận chăm sóc và thu hoạch. Hoặc có thể áp dụng biện pháp xiết nước (cắt nước) để kích thích ra hoa, tiến hành như sau: sau khi thu hoạch tiến hành cắt tỉa cành sâu bệnh, cành vô hiệu, bón phân, quét vôi gốc, thân cây…

Sau lần bón phân thứ hai (vùng ĐBSCL sau bón phân lần hai kết hợp vét bùn bồi gốc và mặt liếp), tiến hành tạo khô hạn bằng cách ngưng tưới nước hoặc/và kết hợp rút khô nước trong vườn hay mức nước trong mương ở mức thấp nhất trong năm để tạo “sốc” cho cây. Thời gian “xiết” nước khoảng 3 tuần đến khi thấy lá hơi héo thì cho nước vào mương cách mặt đất 20 – 30 cm trong 12 giờ, sau đó rút bớt nước ra còn cách mặt đất 50 – 60 cm để không làm rễ cây bị thiệt hại mất sức. Hoặc có thể áp dụng tưới nước trở lại với lượng nước tưới vừa đủ để giảm bớt hiện tượng cây ra đọt non, tưới 2 – 3 lần mỗi ngày và liên tục 3 ngày, đến ngày thứ tư tưới 1 lần/ngày. Khoảng 7 – 15 ngày sau khi tưới trở lại cây sẽ ra đọt và nụ hoa, thời gian này tưới nước cách ngày. Sau ngưng tưới nước, nếu cây ra tược non, có thể dùng các loại phân bón như MKP (0-52-34), KNO3… phun lên cây giúp lá non mau thành thục.

Thứ Tư, 10 tháng 5, 2017

hạn chế rụng trái ở cây Chanh

1/ Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng.


Khi thiếu dinh dưỡng cây chanh  sẽ không đủ sức nuôi số trái nên phải rụng bớt đi để dồn sức nuôi một số trái còn lại. Để khắc phục thì ngay sau khi thu hoạch vụ trước phải bón phân đầy đủ để cây lấy lại sức phát triển thân lá. Vào thời gian này nên bón thêm phân hữu cơ, chú ý bón thêm đạm và lân.

Giai đoạn sau khi trái của cây chanh đã hình thành thì cần nhiều đạm và kali. Có thể bón hỗn hợp phân urê và KCl theo tỉ lệ 1:1 hoặc các phân NPK có hàm lượng đạm và kali cao.

Ngoài phân bón gốc, ở giai đoạn cây chanh  đã có trái phun phân bón qua lá có hàm lượng đạm và kali cao cũng có hiệu quả nhanh và rõ rệt. Phân bón lá Đầu Trâu 009 (20 – 20 – 20) phun định kỳ 7 – 10 ngày để hạn chế rụng trái non và thúc lớn trái nhanh.

Cũng ở giai đoạn cây có trái non nên bổ sung chất điều hòa sinh trưởng GA hoặc NAA. Những chất này kích thích và duy trì sự tăng trưởng của tế bào nên ức chế sự hình thành tầng rời ở cuống trái, góp phần rõ rệt trong việc hạn chế rụng trái non.

2/ Nguyên nhân do thời tiết

Thường là bị khô hạn, giá lạnh hoặc mưa gió lớn. Nguyên nhân này thường khó khắc phục được.

3/ Nguyên nhân do sâu bệnh hại.

Trên các cây có múi có nhiều sâu bệnh hại. Ở giai đoạn từ khi có trái non đến thu hoạch cần chú ý là bọ trĩ, nhện đỏ, bệnh thán thư, bệnh loét và bệnh xì mủ thân.

Bọ trĩ, nhện đỏ và các bệnh thán thư, bệnh loét làm lá và trái non bị vàng và rụng. Bệnh xì mủ thân làm cả cây bị suy yếu, gây rụng lá và rụng trái non hàng loạt, bị nặng có thể làm chết cả cây, cần phát hiện và phòng trừ sớm.

Ở những cây chanh đã nhiễm bệnh vàng lá gân xanh tỉ lệ trái non bị rụng cũng rất cao.

Trong việc dùng thuốc phòng trừ sâu bệnh cho cây có múi cần chú ý sử dụng thuốc sinh học để bảo vệ thiên địch và môi trường. Các thuốc trừ sâu sinh học hiện sử dụng chủ yếu là các chất Abamectin, Emamectin, Matrin, trừ được cả sâu và nhện hại.

Về thuốc trừ bệnh hầu hết vẫn là thuốc hóa học. Thuốc trừ bệnh gốc sinh học sử dụng chủ yếu hiện nay là chất Chitosan. Chitosan có tác dụng nhiều mặt, vừa là chất dinh dưỡng, chất tăng sức đề kháng cho cây, vừa trực tiếp ức chế vi sinh vật gây bệnh.

Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

Các giống Hồng , kỹ thuật trồng

Các giống hồng chính

Hồng Hạc Trì:quả to, hình trái tim khi chín có màu đỏ thắm, có hat, chín vào tháng 9, 10 là loại hồng dấm.



Hồng Thạch Thất: quả to, không có cạnh góc, sai quả, chín vào tháng 11, 12 là loại hồng dấm.

Hồng Văn Lý: quả nhỏ không hạt, thịt quả rắn, chín vào tháng 12,1; sai quả , thuộc loại hồng dấm.

Hồng Lạng Sơn: quả nhỏ hình trái tim, thịt quả giòn, ngọt, khong hạt, chín vào tháng 9,10; thuộc loại hồng ngâm.

Hồng Thạch Hà: quả to, hình vuông nhưng rắn, không hạt, thịt quả nhũn, chín vào tháng 11,12; là loại hồng dấm.

Kỹ thuật trồng trọt

Nhân giống:

Ngâm rễ: chọn cây có năng suất cao, phẩm chất tốt, đào lấy những khúc rẽ có đường kính 1 – 3cm, cắt thành từng đoạnn dài 20 – 25cm, thời vụ ngâm vào tháng 12 và tháng 1.

Ghép mắt: ghép theo kiểu chữ T hoặc của sổ mở, tời vụ ghép tháng 7,8.

Thời vụ trồng: trồng vào cụ xuân tháng 1,2.

Đào hố: rộng 60 – 70cm, sâu 50-60cm, bón 20-30kg phân chuồng , 0,5 -0,8kg lân, 0,5kg vôi trộn đều với lớ p đất mặtvà đưa xuống đáy hố sau đó lấp hố trước 1 tháng.

Khoảng cách: cây cách cây : 6-8m, hàng cách hàng 7-8m.

Chăm sóc: sau khi trồng cắm cọc định vị và tưới nước, hàng năm làm cỏ và bón bổ sung phân, lượng bón tuỳ theo tuổi và sản lượng cây – lượng phân bón như sau:

Với cây từ 1-5 tuổi bón 20-30kg phân chuồng, 2kg đạm , 2kg lân, 0,5 -1kg kali/1cây.

Với cây từ 5-10 tuổi: bón 30-40kg phân chuồng , 3kg đạm, 3 kg lân, 2kg kali/cây

Với cây từ 15 tuổi trở lên : bón 40-50kg phân chuồng , 4-5kg đạm , 4-5kg lân, 3kg kali/cây.

Cách bón: bón làm 2 thời kỳ: đón hoa và sau thu hoạch, đào rãnh rộng 30cm, sâu 20- 30cm theo hình chiếu của tám cây, bón xong lấp đất kín. Thường xuyên đốn tạo tán và cắt bỏ cành tăm.

Phòng trừ sâu bệnh

Bệnh đốm tròn :

Xuất hiện ở lá vào tháng 7,8,9; vết bệnh có màu xám sẫm, phòng trừ dùng Dithan, Boóc đô 1% phun lên lá.

Sâu dục quả: phun sevin 0,1% hoặc paration 0,1% khi sâu xuất hiện.

Rệp sáp: phun Bi58: 0,1% hoặc Diperec 0,1% khi có rệp.

Thu hoạch – khử chát

Sau khi quả chín thì tiến hành thu hái xong phải tiến hành khử chát bằng cách như sau:

Ngâm trong nước vôi loãng hoặc nước tro 3-4 ngày. Cứ 2 ngày thì lại thay nước.

Ngâm quả trong nước ấm 40-50°C trong 36-48 giờ.

Với các loại hồng dấm sau khi ngâm xong thì tiến hành dấm bằng đất đèn hoặc lá xoan như dấm chuối.

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Kĩ thuật trồng Xoài ra hoa sớm

Trong điều kiện tự nhiên, xoài ra hoa vào tháng 12, tháng 1 hàng năm. Tuy nhiên, trước đó 2 tháng cây đã cần khô hạn để phân hoá mầm hoa, nghĩa là xoài cần khô hạn để hạn chế quá trình sinh trưởng và kĩ thuật rải vụ xoài chính là vận dụng các biện pháp kĩ thuật canh tác và hoá chất để ức chế quá trình sinh trưởng, tạo điều kiện cho phân hoá mầm hoa.

Kỹ thuật canh tác:

Sau khi thu hoạch chính vụ, xoài thường nghỉ sinh lý từ 1,5 – 2 tháng. Lúc này cần nhanh chóng vệ sinh vườn, tỉa cành, cắt bỏ những phát hoa đã ra hoa mùa trước nhưng không đậu trái hoặc rụng trái non, cắt bỏ cành bị sâu bệnh, ốm yếu, bị che khuất trong tán. Việc tỉa cành rất quan trọng, giúp cho xoài dễ ra hoa hơn, ra lá và đọt tập trung hơn. Đây cũng là việc cần làm ngay, vì nếu trễ đến mùa mưa thì rất dễ gây nấm bệnh. Nếu có điều kiện nên tiến hành xiết nước, hạ thuỷ cấp để xoài ngủ càng ngon, càng sâu càng tốt.

Sau khi thu hoạch, cho xoài ngủ sinh lý 1,5 – 2 tháng, tiến hành lấy nước trong mương trở lại, bón phân hữu cơ và vô cơ. Phân hữu cơ bón không hạn chế, phân vô cơ bón theo công thức NPK: 15-15-15, mỗi gốc khoảng 0.5 – 1 kg N nguyên chất tuỳ theo tuổi và tán. Nếu vườn đã lâu năm cần tiến hành bón vôi kết hợp với phân hữu cơ truớc. Cách bón phân:  xới vườn cách gốc khoảng 1m, bón phân lẫn vào rồi xới xáo lại. Sau khi bón phân nếu trời không mưa phải tưới nước ít nhất 2 ngày/lần.
Muốn cho ra hoa sớm, đồng loạt thì việc đầu tiên phải cho ra lá non đồng loạt. Với những cây còn tơ, có tuổi dưới 10 năm, trong điều kiện dinh dưỡng tốt thì chúng phải ra lá non đến 3 lượt, còn những cây già thì chỉ cần ra lá mới 1 luợt.

Xử lý hoá chất:

Chất ức chế sinh trưởng được sử dụng là Paclobutrazol. Liều lượng sử dụng 1-2g nguyên chất/mét đường kính tán (trên thị trường hiện phổ biến loại tỷ lệ 10% và 15%). Liều lượng sử dụng phụ thuộc vào tuổi của cây, cây tơ sử dụng liều cao hơn; cây sinh trưởng mạnh, lá xanh tốt cần tỷ lệ cao hơn; Những giống khó ra hoa (cát Hoà Lộc, xoài xanh ăn sống Thái Lan) phải sử dụng liều cao hơn giống dễ ra hoa (cát Chu, Thanh Ca); Đất nhiều cát cần liều cao hơn đất nhiều sét. Không nên xử lí với những cây mới ra hoa 1-2 lần. Khi lá non có 15-20 ngày tuổi (lá đang còn màu đồng hay màu xanh đọt chuối) thì có thể xử lí hoá chất. Cách làm như sau:
– Dùng bàn chải sắt đánh sạch gốc xoài từ mặt đất lên cao 30cm. Đào một rãnh nhỏ rộng 5cm, sâu 19cm xung quanh gốc cây. Pha thuốc cho mỗi cây 3-5 lít, đổ thuốc từ trên xuống để thuốc chảy theo thân và đọng lại trong rãnh (cũng có thể pha vào 30-40 lít nước tưới đều lên tán cây).
– Sau khi tưới Paclobutrazol 75-90 ngày có thể kích thích ra hoa. Chỉ kích thích ra hoa khi trời khô ráo và phun đều lên 2 mặt của lá xoài. Hoá chất được sử dụng là Nitrat kali pha nồng độ 2-2,5% hoặc Thiourea 0,3-0,5%. 5-7 ngày sau, phun lại lần 2 với liều lượng giảm 50%. Chú ý, Kali nitrat và Thiourea đều dễ gây cháy lá cây nên thông thường nhà vườn phải phun trên diện tích bé trước để xác định liều lượng thích hợp.
Sử dụng chất ức chế sinh trưởng Paclobutrazol như con dao 2 lưỡi, nếu vừa đủ thì sẽ có hiệu qủa, nếu quá liều thì vườn cây sẽ bị suy. Chú ý: Paclobutrazol sau hơn 1 năm vẫn còn lưu tồn trong đất 50% nên đến năm thứ 2 nếu sử dụng thì giảm liều xuống 50% và năm thứ 3 thì không được dùng nữa.

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Cách trồng và chăm sóc cây Quýt

1. Kỹ thuật nhân giống:


– Chiết cành: Chọn các cành khoẻ, của cây ưu tú và chiết vào tháng 3 – 4 và tháng 8 – 9.

– Ghép: Chọn giống chống chịu làm gốc ghép, cây năng suất cao chất lượng tốt làm mắt ghép.
Đất: Đất phù sa ven sông, xốp, nhiều màu, thoát nước tốt hoặc đất bazan, phù sa cổ, phiến trạch có tầng dày > 1 m; đất thịt nhẹ, đất cát pha, … pH = 4 – 8 (tốt nhất 5,5 – 6,5).
Khí hậu: Nhiệt độ cần cho sinh trưởng 12 – 39độ C (thích hợp nhất 23 – 29 độ C).

2. Kỹ thuật trồng

– Giống: Quýt Lỹ Nhân, Quýt Bố Hạ, Cam Canh, Quýt Tích Giang (miền Bắc); Càm bù Hương Sơn, Quýt Clêopat (làm gốc ghép); Quýt Dancy (nhập nội).

– Khoảng cách và mật độ trồng: 6 x 5 m hoặc 5 x 4 m.

– Thời vụ trồng: Vụ Xuân: Trồng tháng 2 – 3; Vụ Thu: Trồng tháng 8 – 9 – 10.

– Chuẩt bị đất và cách trồng: Cày đất sâu 40 – 45 cm, đào hố rộng 60 – 80 cm, sâu 60 cm; phơi ải hố 20 – 25 ngày. Bón lót 30 – 50 kg phân chuồng hoai + 250 – 300g supe lân + 200 – 250 g kali sunfat + 1 kg vôi bột/ hố. Trộn đều phân với đất mặt để lấp hố. Dùng cuốc moi đất chính giữa hố vừa lớn hơn bầu cây con. Trồng xong tủ gốc, tưới 30 – 40 lít nước/gốc.

3. Chăm sóc:

– Bón phân: Bón phân cho quýt mỗi năm với liều lượng cho 1 cây như sau:
– Tưới nước: Tưới nước 3 – 5 ngày một lần một lần trong tháng đầu tiên. Tưới nước là cần thiết, đặc biệt vào mùa khô. Luôn cần độ ẩm đất ổn định.
– Tỉa cành tạo tán: Khi cây hồi phục sau trồng, cắt ngọn để cây chỉ cao 30 – 40 cm, để 6-8 mầm khoẻ cách nhau 7 – 10 cm từ mầm nẩy ra từ gốc ghép.

Quýt ra hoa trên cành non mới sinh nên cần đốn bỏ cành già, cành bệnh để kích thích cây ra cành mới (nên bón phân trước khi đốn).

Sâu bệnh: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo chỉ dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.
+ Sâu vẽ bùa: (từ tháng 4 – tháng 10) phun Wofatox 0,1 – 0,2% hoặc BI58 0,2% xen kẽ với sunfat nicôtin 0,2%.

+ Sâu nhớt: (tháng 2 – 4) Phun Wofatox 0,2% hoặc DDT sữa 25% trước và sau khi nở hoa.

+ Nhện đỏ (mùa Đông và Xuân): Phun Wofatox 0,1 – 0,2%; hoặc phun Kentan 0,1%.

+ Nhện trắng: Vệ sinh vườn mùa Đông; phun Wofatox 0,1 – 0,2%; BI 580,1%; Kentan 0,1%.

+ Sâu đục cành (từ tháng 5 – 6); Diệt sâu trưởng thành: Dùng vợt bắt, dùng Wolfatox 0,1% quấn chặt thân cây và cành to (khi sâu bắt đầu vũ hoá).

Trừ sâu non: Cắt cành héo, dùng kẽm luồn vào cành to, hoặc dùng ống tiêm bơm Wofatox hoặc BI58 0,5 – 1% vào đường hầm của sâu non.
+ Sâu đục thân (tháng 5 – 6): Bắt sâu trưởng thành, dùng móc thép giết sâu non hoặc tiêm Wofatox 1% vào các lỗ có phân mới đùn ra; Sau mùa thu hoạch quả, quét vôi gốc cây; nơi bị nặng cần quét lưu huỳnh – vôi; dùng bông tẩm 6666% hoặc DDT + dầu quả (1:1) nhét vào lỗ sâu và bịt kín miệng.

+ Sâu đục gốc (tháng 5 – 6): Bắt sâu trưởng thành vào buổi trưa; tiêm, Wofatox 1% vào các lỗ có phân mới đùn ra; Sau mùa thu hoạch quả, quét vôi với gốc cây; nơi bị nặng cần quét lưu huỳnh vôi; dùng bông tẩm 6666% hoặc DDT + dầu quả  (1:1) nhét vào lỗ sâu và bịt kín miệng.

+ Ruồi vàng (tháng 5 -11): Phun Wofatox 0,1% hoặc Dipterex 50% (1:600).

+ Sâu hại hoa: Rắc bột 666 ở gốc quýt; khi đường kính nụ hoa 2 – 3mm phun DDT sữa 25% 1/300 hoặc 666 (6%); Cách 7 ngày phun 1lần.

+ Các loại rệp: Ngắt các cành có rệp, phun Wofatox, BI58 hoặc Metinparation 0,1%.

+ Rầy xám (rầy chổng cánh): Phun Wofatox, BI58, Metinparation 0,1%

+ Bệnh greening: Trồng cây sạch bệnh; giảm số lượng côn trùng môi giới trong tự nhiên.

+ Bệnh loét do vi khuẩn: Vệ sinh vườn, cắt bỏ cánh, phun Bordeaux 1%, Zineb 0,5-1%.

+ Bệnh sẹo: Phun Bordeaux 1%,  Zineb 0,5% vào đầu mùa hè.

+ Bệnh muội đen: Diệt trừ các loại rệp, rầy hại cam; phun Wofatox 0,1%-0,2%, BI58 0,1%.

+ Bệnh thối nâu: Phun Bordeaux 0,1% hoặc oxychlorua đồng 0,3%.

+ Bệnh thâm quả: Phun Bordeaux 1% hoặc Zineb 0,5%.

– Thu hoạch: Thời gian thu hái khác nhau tuỳ thuộc vào giống chín sớm hoặc chín muộn. Thu hoạch khi 1/3 vỏ quả đã chuyển vàng. Nên thu hoạch vào những ngày khô ráo.

Thứ Tư, 3 tháng 5, 2017

Để quả Bưởi lớn đều cho năng suất cao



Tháng 2, tháng 3 là thời gian đa số các giống bưởi ở các tỉnh phía Bắc ra hoa, đậu quả.


Bưởi thường nở hoa không tập trung, lứa hoa đầu và lứa hoa thứ hai trong một cây nở cách nhau tới 30 ngày, các hoa đơn trong một chùm hoa kép cũng nở cách nhau 5-7 ngày.

Những quả ra trước do được cung cấp nhiều dinh dưỡng nên thường lớn nhanh, to hơn, sớm cho thu hoạch, chất lượng cũng tốt hơn những quả ra sau. Cách chăm sóc cho quả bưởi đồng đều về kích thước, chất lượng và thời gian thu hái như sau:


Chăm sóc:


Chủ động tưới ẩm, bón phân khoáng cho bưởi trước khi nở hoa 25-30 ngày.


Bón thúc cho đa số các giống bưởi thời gian từ 15/1-30/1. Bón mỗi cây 30-50kg phân chuồng hoai mục + 0,2-1kg đạm ure + 0,2-1kg kali clorua + 1-2kg lân super hoặc mỗi cây 1-5kg phân hỗn hợp NPK (13:13:13). Tuỳ theo độ tuổi, năng suất vụ trước, tình hình sinh trưởng hiện tại của cây, biểu hiện của màu sắc tán lá mà quyết định liều lượng bón cụ thể cho từng cây. Bón thành 4 hốc theo hình chiếu của tán cây, bón sâu 20cm.


Bón thúc quả 2 lần cho giống bưởi chín sớm tháng 9-10, 3 lần cho giống bưởi chín muộn tháng 12 đến tháng 1 năm sau: Lúc quả to bằng nút bình tông (đường kính quả 2-2,5cm) và các lần sau đó 2-4 tháng. Lượng bón mỗi cây 0,5-1kg đạm ure + 1-2kg kali clorua. Đảm bảo độ ẩm cho đất để rễ cây hút phân được thuận lợi.


Phun sản phẩm Vườn sinh thái cho bưởi 4-5 lần: Hai lần trước khi nở hoa, 2-3 lần khi quả to bằng nút bình tông. Mỗi lần cách nhau 10-15 ngày. Sản phẩm Vườn sinh thái giúp quả lớn nhanh, độ đồng đều cao, mã quả đẹp, chất lượng, năng suất tăng 20-30%.


Có thể dùng một số sản phẩm khác như: K-Humate; Atonic; K-H 502/503; K-H 701/702…chất lượng và năng suất bưởi cũng được cải thiện.

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Thu hoạch và bảo quản Ổi hiệu quả

Thu hoạch: Trồng từ hạt, ổi được thu hoạch sau khoảng 4 năm. Trồng bằng cành chiết chỉ cần 2 năm, có thể ít hơn. Quả chín thì màu xanh lạt đi, sau chuyển vàng, vỏ quả nhẵn, nắn thì mềm hơn.


Trẻ em thường bấm bằng móng tay, móng cắm phập vào là quả sắp chín. Không để trên cây lâu được vì chín nhanh, chim đến mổ.

Từ hoa đến quả chỉ cần hơn 3 tháng. Ở miền Bắc, ổi thường chín vào giữa mùa hè lúc này mưa nhiều chất lượng kém. Ở miền Nam, điều khiển bằng đốn tỉa, tưới bón có thể chín vào cuối năm, mùa khô chất lượng tốt hơn khi chín vào mùa mưa.

Tuy nhiên có thể có ổi chín quanh năm. Vào năm thứ 3 – 5 năng suất có thể đạt 20 tấn/ha, vào năm thứ 6, 7 : 50 tấn/ha và hơn.

Ổi rất mau chín, thu hoạch xong nên bán cho nhanh và để trong nhà chỉ giữ được vài ngày ở nhiệt độ bình thường. Xử lý bằng một số hóa chất như GA3 có thể giữ được lâu hơn.

Bảo quản:

Ở phòng lạnh: độ nhiệt 5 – 15°C độ ẩm không khí 85 – 90% có thể bảo quản được 3 – 4 tuần lễ.

Thứ Hai, 1 tháng 5, 2017

Chống khô hạn cho cây ăn trái

Trong khoảng thời gian 2 năm trở lại đây, điều kiện thời tiết có nhiều diễn biến bất lợi cho việc sản xuất nông nghiệp. Việc nắng nóng kéo dài, lượng mưa giảm mạnh, khô hạn kéo dài đã dẫn tới nhiều địa phương tại vùng Đông Nam Bộ thiếu nước tưới trầm trọng. Để tránh việc tình trạng khô hạn ảnh hưởng đến cây ăn quả, gây thiệt hại lớn về kinh tế, áp dụng các giải pháp chống khô hạn là điều vô cùng quan trọng và cần thiết.



Ảnh hưởng của khô hạn đến cây ăn quả
Trong Trồng trọt, nước gần như là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự sống còn của vườn cây. Nắm bắt được yếu tố này, hầu hết các khu vực trồng cây ăn quả đều được bố trí gần nơi có nguồn nước dồi dào. Trong trường hợp thiếu nước, cây ăn quả thường gặp phải nhiều vấn đề khác nhau. Khi thiếu nước, cây ăn quả đang ở giai đoạn sinh trưởng sẽ xuất hiện một số biểu hiện như khô héo, lá rụng, dần dần sẽ chết cả cây. Trong giai đoạn ra hoa, đậu quả, nếu thiếu nước, việc thụ phấn sẽ gây ảnh hưởng đến năng suất.
Thực tế, nhu cầu về nước của cây ăn quả cũng có sự khác nhau giữa từng thời kỳ khác nhau. Ở giai đoạn còn bé, nhu cầu về nước thường ít. Trong khi đó, khi ra hoa, đậu quả, nhu cầu nước sẽ cao hơn. Nếu không cung cấp đủ nước ở giai đoạn này, năng suất và chất lượng của quả đều bị ảnh hưởng.
Thay vì lấy nước qua thân hay lá, cây ăn quả sẽ lấy nước qua phần rễ. Do đó, đất chính là nơi giữ nước để bổ sung cho cây. Thế nên, để ứng phó hiệu quả với khô hạn, bà con cần nắm rõ từng loại đất khác nhau cũng như từng loại cây trồng khác nhau. Do việc biến đổi khí hậu sẽ còn diễn ra phức tạp trong thời gian tới, bà con có thể ứng phó với khô hạn bằng những giải pháp cơ bản sau:
– Khi sử dụng nguồn nước tưới cho cây ăn quả, bà con không nên lãng phí mà chỉ sử dụng một lượng phù hợp, dựa vào giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây. Nếu nguồn nước hạn hẹp, cần ưu tiên những giai đoạn cần nước như khi cây đâm chồi hay ra hoa, thụ quả. Khi tưới cây, bà con hãy chọn thời điểm râm mát, giúp cây hấp thụ nước tốt nhất. Đồng thời, tưới nước trực tiếp vào rễ cũng là yếu tố khá quan trọng.
– Sử dụng hệ thống tưới đúng cách: Hiện nay, nhiều hộ gia đình đã áp dụng các hệ thống tưới cây tự động cho vườn của mình. Tuy nhiên, bà con cần chú ý tránh tưới lên tán cây, tránh tưới tràn là lựa chọn cách tưới trực tiếp vùng rễ, nhỏ giọt.
– Để nước mưa thấm sâu vào trong lòng đất, khi trồng cây bà con hãy đào hố thật sâu, làm đất tơi xốp trước khi trồng. Điều này cũng sẽ giúp giữ ẩm hiệu quả trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây.
– Bà con nên bón phân để tăng sức đề kháng cho cây cũng như giữ ẩm cho đất hiệu quả. Khi chọn phân, bà con có thể xin ý kiến tư vấn của các chuyên gia
– Tránh để phần gốc cây có quá nhiều cỏ bởi chúng sẽ tiêu thụ nước.